Lý thuyết dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu văn học tự thuật

Báo cáo đánh giá giữa kỳ đề tài NCKH loại C năm 2013-2015

Phạm Văn Quang

Ngày 6 tháng 5 năm 2014

Tên đề tài :

Lý thuyết dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu văn học tự thuật

Áp dụng cho văn học Việt Nam Pháp  ngữ

 

****************

 

Khi đặt vấn đề về dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu văn học tự thuật, đề tài nghiên cứu của chúng tôi đụng phải một khái niệm phức tạp : phạm trù « dòng chảy cuộc đời » đã làm tốn nhiều giấy mực.

 

Sự xuất hiện ban đầu của nó trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đã khiến giới khoa học ngờ vực về tính khả thi của nó. Pierre Bourdieu đã chỉ ra điều này. Cấu trúc luận tìm cách phủ nhận vai trò của dòng chảy cuộc đời, khi Lévi-Strauss cho rằng : dòng chảy cuộc đời với tư cách là một hệ thống các tư liệu cá nhân hình thành trên trải nghiệm sống không thể cho phép tạo ra một đối tượng khoa học.

 

Dù vậy, hiện tượng nở rộ của Dòng chảy cuộc đời không phải là một sự ngẫu nhiên và tình cờ. Những năm 1920 chứng kiến nhân học chọn Dòng chảy cuộc đời như một phương tiện ưu việt để tìm hiểu và phân tích các nhóm xã hội.

 

Tuy ở thời điểm đó chưa trở thành một phương pháp luận đặc thù nhưng những thực hành phát xuất từ Dòng chảy cuộc đời đã gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển của phương pháp tiểu sử học trong nhiên cứu xã hội học. Trường phái Chicago đã sử dụng kỹ thuật Dòng chảy cuộc đời để phân tích hiện tượng xã hội về vấn đề lệch chuẩn « nội tại ». Isaac Joseph và Yves Grafmeyer viết lại như sau :

 

« 15.000 lá thư được trao đổi giữa những người Ba-Lan nhập cư hay tự thuật của người Ba-Lan phiêu lưu đã được thu thập bởi Thomas và Znaniecki, đã hình thành một thể loại cứ liệu xã hội học hoàn hảo » (p. 21).

Ở Pháp, sau hiện tượng lên ngôi của xã hội học tân thực nghiệm, những biến động của sự kiện tháng Năm 68 đã tạo điều kiện cho phương pháp định tính chiếm vị trí hàng đầu trên sân khấu Khoa học xã hội và nhân văn. Đó chính là cơ hội phát triển của phương pháp tiểu sử học, (đặc biệt được khai triển bởi Daniel Bertaux, người đã có những đóng góp quan trọng trong việc khơi dậy tinh thần các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc ứng dụng phương pháp này trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn).

Khoảng những năm 1980, xuất hiện tại Canada, cụ thể từ Đại học Laval, một nhóm các nhà nghiên cứu và từ đó hình thành Trường phái Laval, trở thành một cơ quan chuyên biệt trong phạm vi khoa học luận và phương pháp luận liên quan đến Dòng chảy cuộc đời. (Trong đó phải kể đến những đóng góp của Nicole Gagnon, người đồng sáng lập ra trường phái này).

Dòng chảy cuộc đời mở rộng lộ trình chinh phục thế giới triết-văn

Trên bình diện triết học, Dòng chảy cuộc đời dẫn vào nghiên cứu bản thể luận chủ thể con người đương đại. Các triết gia hiện đại đã cố gắng xác định và nêu ra những đặc điểm của tiến trình giải phóng cá nhân cũng như quá trình chủ thể hóa con người. Từ đó, bản thể con người đương đại được chứng minh như nguồn gốc và nền tảng của chính những hình thức thể hiện và hành động của mình. Bằng lí trí và ý chí, con người đương đại tự tìm xây dựng cho mình những chuẩn mực riêng. Qua đó, xuất hiện hình ảnh thực thể chủ thể đương đại gắn với cá nhân phản tỉnh (autoréflexif).

Cùng với sự bùng nổ của cá nhân chủ nghĩa, hình ảnh chủ thể đương đại khơi gợi nhiều diễn giải khác nhau để làm sáng tỏ hiện tượng phản ánh một tình trạng « vỡ mộng về thế giới » – thuật ngữ mượn từ nhan đề tác phẩm của Marcel Gauchet (Le Désenchantement du monde). Thế giới khách thể tạo ra cảm giác vỡ mộng cùng với những lí lẽ quyền lực riêng của nó sẽ bị thay thế bởi vô số những thế giới đặc thù, vừa thể hiện những cá nhân bị tước đoạt và đối phó với những thăng trầm của tồn sinh thường nhật, vừa bao gồm những cá nhân trong hành trình của cuộc phưu lưu sâu thẳm.

Như vậy, Dòng chảy cuộc đời chứng minh quá trình chuyển tiếp từ tiếng nói chung sang tiếng nói cá nhân. Dư vang của những loại hình tiếng nói cá nhân này chủ yếu được xem xét trong địa hạt văn học. Walter Benjamin, trong khảo luận mang nhan đề Người kể (Narrateur), đề cập đến hiện tượng suy tàn của một loại hình huyền thuyết như là nguồn gốc chuyển tiếp của trải nghiệm cộng đồng. Tác giả nhìn nhận rằng những tác phẩm truyện kể vốn tạo ra một nền tảng thực sự và bền vững. Nhưng đến khi những quá trình cự tuyệt xuất hiện, chẳng hạn như sự tăng tốc của kỹ thuật, các tiêu chí của chuyện kể đã bị biến đổi và phá vỡ. Điều đó chứng minh sự lệ thuộc của những cá nhân vào sức mạnh phi nhân cách của các cơ chế kỹ thuật. Chính những sức mạnh phi nhân cách ấy có thể được đồng hóa như tiếng nói chung của cộng đồng. Trong tình trạng thiếu vắng tiếng nói chung thực sự của con người, sự xuất hiện của những Dòng chảy cuộc đời đã tạo ra một không gian mới cho những tiếng nói cá nhân, và điều đó giải thích cho quá trình biến mất của những tham chiếu cộng đồng, nhưng giúp cho những giá trị cá nhân được thừa nhận. Như vậy có thể nói, Dòng chảy cuộc đời cá nhân đã hình thành một vị thế nhất định và đánh dấu sự kết thúc của những dòng chảy truyền thống và các giá trị huyền thoại và phổ quát của nó.

Ý tưởng này gần gũi với tinh thần hậu hiện đại của Jean-François Lyotard. Trong tác phẩm Điều kiện hậu hiện đại (1979), tác giả cho rằng những « đại dòng chảy » đã đến lúc phải nhường chỗ cho những dòng chảy cá nhân.

Những bàn luận triết học hay văn học qua dòng chảy cuộc đời đều nhắm đến khai thác những điều kiện về mối tương quan của con người với chính mình, và từ đó sẽ dẫn đến một chiều kích lớn hơn là viễn cảnh xã hội. Heidegger đã từng chất vấn về mối tương quan lưỡng chiều này của con người trong tiến trình xây dựng căn cước. Ông tự hỏi : « Con người khi đã trở thành chủ thể tự đặt ra cho mình một vấn đề cấp bách là không biết anh ta muốn và phải là cái Tôi giới hạn trong sự vô cớ và độc đoán của mình hay là cái Chúng tôi của xã hội » (trích dẫn bởi Renaud, 1989).

Còn Marcel Gauchet thì khẳng định sự chuyển tiếp của xã hội cá nhân như sau : « Sự biểu hiện nổi bật ngày nay là sự biểu hiện của con người cá nhân được giải phóng khỏi ràng buộc từ những biểu hiện của toàn thể được tiền định. Về khía cạnh chức năng, mức độ hội nhập của toàn thể phụ thuộc vào vị thế của mỗi cá nhân, và về mặt biểu trưng nó ẩn sâu trong thế giới vô hình ».

Ứng dụng Dòng chảy cuộc đời trong giai đoạn hiện nay cho phép minh định luận chứng của một thời kỳ mang đặc trưng của tính chất tự sự tự thuật. Vì tự thuật hay kể là hệ quả của nhu cầu và sự cần thiết đối với cá nhân trong tiến trình tự đào luyện và tìm kiếm ý nghĩa của sự tồn sinh.

Dòng chảy cuộc đời kết nối triết học và văn học. Những ý niệm triết học có thể được tìm thấy nơi các tác phẩm văn chương. Người ta đã đề cập đến Những hiện tượng luận văn học của lối viết về bản thân (2009). Đây có lẽ chỉ là dư vang của những gặp gỡ trước đó giữa văn học và triết học. Paul Ricœur suy tư về khái niệm bản thân (le soi) gắn bó mật thiết với vấn đề căn cước. Cả văn học tự thuật và triết học đều có thể khởi đi từ những chất vấn theo kiểu Paul Ricœur : Chủ thể diễn ngôn là ai ? Ai là tác nhân và thụ nhân của hành động diễn ngôn ? Nhân vật của chuyện kể là ai ? Ai chịu trách nhiệm về hành động diễn ngôn ? Tất cả những chất vấn này nhằm phác hoạ một căn cước về cái tôi, một tâm thế của chủ thể, không phải trong cuộc đời thường mà trong lối viết.

 

Như vậy, dòng chảy cuộc đời, thường xuất hiện dưới hình thức kể, đã trở thành một phương thức xây dựng và thẩm thấu căn cước, và có khả năng giải đáp cho câu hỏi « Tôi là ai ? ». Quả vậy, nữ triết gia người Đức Hannah Arendt, tác giả của Thân phận con người hiện đại, cũng đã xác nhận : để trả lời cho câu hỏi Tôi là ai ?, người ta phải đi vào tiến trình kể. Chính trong tiến trình kể ấy xuất hiện căn cước tự sự. Căn cước tự sự, khái niệm được Paul Ricœur sử dụng, là một mô thức khác của căn cước cá nhân, hay là một mô thức phản chiếu bản thân.

 

Khi diễn giải căn cước cá nhân trong truyện kể, đặc biệt trong văn học tự thuật, các nhà phê bình văn học hậu hiện đại đều tỏ ra nghi ngờ về một căn cước đồng nhất – trái với quan điểm của Lejeune về tự thuật. Đối với văn học và triết học hậu hiện đại, không tồn tại những hình thức căn cước đồng nhất. Ý niệm về một căn cước đồng nhất đã lỗi thời. Nó phải nhường chỗ cho tính đa nguyên, lai tạp, du cư, lan toả, võng luận, phát tán, trì biệt, chuyển tiếp. Tư tưởng hậu hiện đại tương thích với khái niệm Dòng chảy cuộc đời, một thể loại lai tạp, mang tính đa định, chấp nhận những phạm trù khác nhau : Tân tự thuật (Robbe-Grillet) Tự hư cấu (Serge Doubrosky), Tự thuật giả trang (Paul de Man), hay Tự thuật hậu hiện đại (Michel Rybalka).

 

Tất cả những luận chứng trên cho thấy sự cần thiết của một tiến trình tìm hiểu Dòng chảy cuộc đời, không chỉ như một sự chọn lựa chất liệu và cứ liệu, mà trước hết như một sự thẩm thấu về căn cước và cái Tôi, một cái Tôi đồng thời là chủ thể sinh học, chủ thể ngôn ngữ, chủ thể xã hội. Một cái tôi bắt nguồn từ thực tế hiện tại của những đau thương, của cảm giác trống vắng, của thực tế bị loại ra khỏi kinh nghiệm truyền đạt. Dòng chảy cuộc đời với tư cách là một kết cấu truyện kể trở thành hình ảnh biểu trưng cần thiết cho quá trình sản sinh ý nghĩa.

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.